Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Các bạn thầy trang web của chúng tôi thế nào?
Bình thường
Đẹp
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    CAU_CHUYEN_CAU_BE_MUI_DAI.flv Nguoi_me_cua_toi_onlineaudioconvertercom.mp3 Despacito__Luis_Fonsi_Daddy_Yankee.mp3 SakuraIkimonoGakari39038.mp3 4.jpg 5.jpg Picture5.jpg Picture4.jpg Picture3.jpg Picture2.jpg Picture1.jpg Clip_tro_choi_2.flv Clip_tro_choi_2.flv 20170325_074335.jpg 20170325_084328.jpg 20170325_080047.jpg

    Thành viên trực tuyến

    12 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Quảng Bình.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Giáo án tổng hợp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: face
    Người gửi: nguyễn hương
    Ngày gửi: 10h:03' 08-11-2023
    Dung lượng: 366.0 KB
    Số lượt tải: 12
    Số lượt thích: 0 người
    -

    A. Nội dung tác phẩm Ánh trăng

    Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các
    mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy, mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến
    hiện tại và lắng kết trong cái "giật mình" cuối bài thơ. Từ một câu chuyện riêng, bài thơ như một
    lời nhắc nhở chính mình, củng cố, cảnh tỉnh ở người đọc về thái độ sống “uống nước nhớ
    nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung với qúa khứ.

    B. Đôi nét về tác phẩm Ánh trăng

    1. Tác giả
    - Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ
    - Quê quán: Xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ - Thanh Hóa)
    - Sự nghiệp sáng tác:
    ad
    + Nguyễn Duy làm thơ từ rất sớm, từ khi học cấp ba.
    + Năm 1973, ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo văn nghệ với chùm thơ vô cùng xuất
    sắc.
    + Ngoài việc sáng tác thơ ông còn viết tiểu thuyết và bút kí
    + Năm 2007, Nguyễn Duy được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật
    + Những tác phẩm tiểu biểu: “Đãi cát tìm vàng”, “Bụi”, “Mẹ và em” …
    - Phong cách sáng tác: Thơ Nuyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những
    trăn trở, day dứt và suy tư.
    2. Tác phẩm
    a. Hoàn cảnh sáng tác
    “Ánh trăng” là một bài thơ hay viết vào năm 1978 - 3 năm sau ngày giải phóng hoàn toàn miền
    Nam. Bài thơ được viết tại Thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập “Ánh trăng”.
    b. Bố cục
    3 phần:
    - 2 khổ đầu: Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ.
    - 2 khổ giữa: Những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng.
    - 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả.
    c. Ý nghĩa nhan đề
    - Ánh trăng là ánh sáng của vầng trăng, ánh sáng soi rọi lương tâm, soi vào những góc khuất
    trong tâm hồn con người khiến cho con người phải giật mình thức tỉnh nhận ra những sai lầm
    và vươn tới những điều tốt đẹp.
    - Nhan đề thể hiện chủ đề của bài thơ: củng cố và gợi nhắc thái độ sống ân tình thủy chung với
    quá khứ, đó là truyền thống uống nước nhớ nguồn, ân tình thủy chung với quá khứ.
    d. Giá trị nội dung
    ad
    Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó
    với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ
    sống “Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình,
    quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.
    e. Giá trị nghệ thuật
    - Thể thơ năm chữ, bố cục rõ ràng, mạch lạc.
    - Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự.
    - Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa khát, giàu tính biểu cảm.
    - Giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình.

    C. Sơ đồ tư duy Ánh trăng

    -

    ad

    D. Đọc hiểu văn bản Ánh trăng

    1. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ (hai khổ đầu)
    - Điệp từ hồi được lặp đi lặp lại ba lần → bắt đầu dòng hồi tưởng, gắn kết thời gian hiện tại với
    quá khứ ; làm cho giọng thơ như một lời thủ thỉ tâm tình.
    - Ánh trăng gắn bó với kỉ niệm trong sáng của tuổi thơ.
    - Biện pháp điệp : với + Biện pháp liệt kê : đồng ; sông ; bể → thiên nhiên bao la khoáng đạt,
    con người sống gắn bó chan hòa với thiên nhiên
    - Ánh trăng gắn với kỉ niệm năm tháng kháng chiến gian khổ
    +“Hồi chiến tranh ở rừng” → những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh,
    + Biện pháp nhân hóa (vầng trăng thành tri kỉ) → trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là
    đồng chí cùng chia sẻ những vui buồn, khó khăn gian khổ trong kháng chiến với người lính.
    -Biện pháp nhân hóa, so sánh (Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ) → vẻ đẹp bình
    dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng. Đó cũng chính là hình ảnh
    con người lúc bấy giờ (vô tư, hồn nhiên, trong sáng, sống hòa mình với thiên nhiên).
    - Ngỡ không bao giờ quên/Cái vầng trăng tình nghĩa :
    + Biện pháp nhân hóa (vầng trăng tình nghĩa) → con người luôn coi trăng là người bạn tri kỉ
    của mình và đinh ninh không bao giờ quên.
    + Ngỡ : tưởng vậy mà thực tế về sau không phải như vậy. Con người đinh ninh không bao giờ
    quên trăng nhưng thời gian trôi đi, con người đã lãng quên.
    → Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành, cả trong
    hạnh phúc và gian lao.
    + Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hiền hậu của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ
    mộng.
    → Vầng trăng vừa là người bạn tri kỉ vừa biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, cho
    sự đùm bọc của nhân dân, đất nước đối với những người lính trong những năm kháng chiến
    gian khổ.
    ad
    2. Những thay đổi trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng

    - Hoàn cảnh dẫn đến thay đổi :
    + Xa cách về thời gian
    + Thay đổi về không gian sống (thành phố) : nơi phồn hoa, đô hội. Biện pháp hoán dụ: ánh
    điện cửa gương gợi cuộc sống đầy đủ tiện nghi, hiện đại.
    → Không gian sống thay đổi → con người sống cách biệt với thiên nhiên, vầng trăng; thời gian
    xa cách → con người đã quen với cuộc sống mới tiện nghi, hấp dẫn.
    - Biệp pháp nhân hóa : vầng trăng đi qua ngõ → trăng vẫn thủy chung âm thầm, lặng lẽ.
    - Biện pháp so sánh: như người dưng qua đường → Tình cảm của con người dành cho vầng
    trăng đã thay đổi: Vầng trăng từ người bạn tri kỉ → trở thành người dưng qua đường. Con
    người hờ hững thờ ơ, lãng quên và vô tình với trăng.
    → Sự cách biệt về thời gian và không gian sống → khiến cho tình cảm giữa người và trăng
    thay đổi. Con người hờ hững thờ ơ, lãng quên và vô tình với trăng, cũng chính là quên đi gian
    khổ, nghĩa tình trong quá khứ. Nét tâm lí này không phải là hiếm gặp, nên người ta vẫn thường
    nhắc nhở nhau: ngọt bùi nhớ lúc đắng cay.
    * Khổ 4 : Tình huống gặp lại vầng trăng
    - Từ láy thình lình + biện pháp đảo ngữ → nhấn mạnh tình huống bất ngờ làm chuyển đổi mạch
    cảm nghĩ: tình huống gặp lại trăng do đèn điện tắt. Đến lúc ấy con người nhận ra sự chật hẹp,
    bức bách, ngột ngạt của không gian đô thị và như một phản ứng tự nhiên, nhân vật trữ tình vội
    bật tung cửa sổ tìm nguồn sáng.
    - Động từ mạnh vội, bật tung → bộc lộ trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, những hành động rất
    nhanh như phạn xạ tự nhiên tìm nguồn sáng.
    - Từ láy : đột ngột + đảo ngữ → nhấn mạnh cảm giác ngỡ ngàng, thảng thốt của con người khi
    bất ngờ gặp lại vầng trăng bên ngoài cửa sổ. Vầng trăng vẫn tròn đầy, và đã ở đó tự bao giờ.
    - Thực ra, vầng trăng tròn đâu phải chỉ khi đèn điện tắt mới xuất hiện. Chỉ có điều con người có
    nhận ra hay không. Như vậy hành động "bật tung cửa sổ" không chỉ đơn thuần là mở cánh cửa
    sổ phòng mình mà còn là mở cửa tâm hồn : Mình đối diện với tri kỷ với tình nghĩa mà bấy lâu
    nay mình dửng dưng. Đó hẳn là một cuộc "đối diện đàm tâm " Đối diện với chính mình của quá
    khứ và đối diện với mình của hiện tại.
    ad
    → Trăng biểu tượng cho giá trị vĩnh hằng, không thay đổi.
    3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả
    * Khổ 5: Những xúc động mạnh liệt của nhà thơ khi gặp lại trăng
    - Mặt nhìn mặt → tư thế tập trung, có phần thành kính.
    - Từ mặt thứ 2 trong câu thơ đầu được dùng với ý nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ →
    mặt người đối diện với mặt trăng.
    - Cuộc gặp mặt với vầng trăng → gọi về bao kỉ niệm:
    + Từ láy rưng rưng → trạng thái ngân ngấn lệ, sắp khóc, cảm xúc xao xuyến, bồi hồi gặp lại tri
    kỉ, đan xen niềm ân hận, day dứt, xót xa vì đã lỡ lãng quên trăng, có cả sự xót xa tiếc nuối.
    + Phép liệt kê : đồng, sông, bể + biện pháp so sánh : như là → nhịp thơ trở nên dồn dập, mạnh
    mẽ hối hả, diễn tả sự dâng trào của cảm xúc trước sự ùa về của kỉ niệm sống động trong kí ức:
    lúc ấy con người và vầng trăng sống chan hòa, là tri âm tri kỉ.
    → Trong khoảnh khắc bất ngờ gặp lại vầng trăng, vầng trăng đã gọi về những hồi ức cao đẹp,
    những xúc cảm trong trẻo thuần khiết của tuổi ấu thơ; gọi bao nhiêu cảnh tượng rộng lớn của
    thiên nhiên đất nước bình dị, và gọi về quá khứ nghĩa tình gian lao.
    → Nhà thơ đối diện với trăng là đối diện với tuổi ấu thơ, tuổi trưởng thành, tuổi hoa niên và một
    phần của cuộc đời
    * Khổ 6: Suy ngẫm và triết lí sâu sắc của nhà thơ
    - Hình ảnh ẩn dụ: “Trăng tròn vành vạnh” + phó từ cứ → trăng vẫn nguyên vẹn, không hề thay
    đổi, mang vẻ đẹp cho thiên nhiên vĩnh hằng. Hình ảnh này ẩn dụ cho tình cảm tròn đầy, vẹn
    nguyên của nghĩa tình quá khứ, của thiên nhiên, cuộc đời, đất nước, nhân dân nhân hậu bao
    dung.
    - Biện pháp tương phản đối lập:

    + Trăng tròn vạnh vạnh >< Người vô tình → con người có thể vô tình lãng quên, nhưng thiên
    nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.
    + Đối lập trạng thái: cái im phăng phắc của vầng trăng và cái giật mình thức tỉnh của con người
    khi soi vào vàng trăng ấy.
    ad
    - Ánh trăng im phăng phắc → trăng được nhân hóa thành người bạn, một chứng nhân tình
    nghĩa mà nghiêm khắc, trăng nghiêm khắc phê phán nhưng không một lời trách cứ, gợi ta liên
    tưởng tới cái nhìn nghiêm khắc mà bao dung, độ lượng của người bạn thủy chung, tình nghĩa.
    Chính sự nghiêm khăc, bao dung độ lượng của trăng đã cảm hóa khiến con người phải tự vấn
    lòng mình để mà giật mình nhận ra sự vô tình bạc bẽo của mình.
    - Soi vào vầng trăng tròn vành vạnh lặng lẽ tỏa sáng, vừa độ lượng, vừa nghiêm khắc con
    người “giật mình”:
    + Giật mình, thấu hiểu hơn sự thủy chung, vẹn nguyên của vầng trăng và cũng nhận ra sự thay
    đổi của bản thân, sự vô tình bạc bẽo của bản thân đối với quá khứ ân tình.
    + Giật mình là sự tự vấn lương tâm để tự nhắc nhở tự cảnh tỉnh với chính mình để sống có ân
    nghĩa, thủy chung với quá khứ gian khổ mà đẹp đẽ của đồng đội, của nhân dân.
    → đây là sự ăn năn nhân bản, sự thức tỉnh của nhân cách.
    - Tác giả dùng ánh trăng không phải vầng trăng → vì ánh trăng là ánh sáng dịu hiền, có khả
    năng len lẻn vào trong phần khuất lấp của tâm hồn → thức tỉnh con người hướng đến những
    giá trị tốt đẹp.
    → Triết lí : gợi nhắc và củng cố thái độ sống thủy chung ân tình với quá khứ, đó là đạo lí uống
    nước nhớ nguồn.

    E. Bài văn phân tích Ánh trăng

    Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng nhận định “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người
    sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng”. Với bài
    thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, nhận định đó trở nên đúng đắn và xác thực hơn bao giờ hết.
    Qua mạch cảm xúc dâng trào mãnh liệt, ta cảm nhận được một ngòi bút sâu sắc, một trái tim
    tinh tế rung động, trước những đổi thay nhỏ bé nhất, và cả một khát khao ước vọng truyền cho
    mọi người lẽ sống, cách sống trọn vẹn, tình nghĩa.
    Nguyễn Duy sinh năm 1948, ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ kháng chiến chống Mĩ.
    Thơ ông thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở day dứt, suy tư. Trong sự nghiệp sáng
    tác của Nguyễn Duy, lung linh rực rỡ một “ánh trăng” tròn đầy. Ánh trăng ấy là lời thức tỉnh nhẹ
    nhàng mà hết sức sâu sắc về triết lí nhân sinh, lẽ sống thủy chung, tình nghĩa và những trăn trở
    suy nghĩ trước cuộc sống hiện đại đầy cám dỗ, đầy lãng quên và vô tình.
    Hai khổ thơ đầu tiên gợi lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm gắn bó giữa con người và vầng
    trăng trong quá khứ. Bốn câu thơ nhẹ nhàng như những lời thủ thỉ, tâm tình, kể về một quãng
    thời gian của tuổi thơ, tuổi trẻ, nhất là quãng thời gian chiến tranh gian khổ. Ngôn ngữ thơ mộc
    mạc, bình dị: “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh”. Câu thơ mở ra một không gian bao la, mênh mông
    sông nước, khoảng trời ấy nuôi lớn cả một tâm hồn tuổi thơ với bao khát vọng, khoảng rộng ấy
    được mở ra rồi thu lại khăng khít, gắn bó với quá khứ biết bao tình nghĩa. Điệp từ “với” được
    nhắc lại ba lần, nhấn mạnh sự thân thiết, gần gũi giữa con người với thiên nhiên:
    ad
    Hồi
    nhỏ
    sống
    với
    đồng
    với
    sông
    rồi
    với
    bể
    hồi
    chiến
    tranh

    rừng
    vầng trăng thành tri kỉ
    Cuộc sống “hồi nhỏ”, “hồi chiến tranh” tuy khó khăn, vất vả mà chan hòa với thiên nhiên. Cuộc
    sống ấy bình dị, vô tư và mênh mông hoài bão như thiên nhiên, như cánh rừng mặt bể. Chợt
    nhận ra, ta có một người bạn hiền hòa, gắn bó, “tri kỉ” – vầng trăng tròn đầy, hiền dịu. vẻ đẹp
    của trăng xoa dịu những vết thương do chiến tranh gây ra, xoa dịu những mỏi mệt, buồn đau
    của cuộc sống ấy; trăng vỗ về cho con người bằng những sẻ chia lặng im, bằng những đêm sát
    cánh bên nhau “đầu súng trăng treo”. Trăng theo ta trên mọi bước đường đi, là người bạn đồng
    hành tin cậy nhất. Vì lẽ ấy, trăng chính là hiện thân của quá khứ, của kí ức chan hòa tình nghĩa:

    Trần
    trụi
    với
    thiên
    nhiên
    hồn
    nhiên
    như
    cây
    cỏ
    ngỡ
    không
    bao
    giờ
    quên
    cái vầng trăng tình nghĩa.
    Vầng trăng đã được nhân hóa cao độ để trở thành người bạn tinh thần của nhà thơ, một người
    bạn tri âm tri kỉ tưởng chừng sẽ không bao giờ quên được. Thế nhưng, giữa dòng hồi tưởng
    tươi đẹp và bình yên, tác giả chợt bất ngờ có những băn khoăn, vướng bận, mơ hồ, báo hiệu
    cho sự xuất hiện của những biến chuyển trong câu chuyện. Từ “ngỡ” như điểm tiếp nối tinh tế
    giữa hai khổ thơ, làm bài thơ giữ được nét uyển chuyển trong cả nội dung và ngôn từ.
    Khép lại nhẹ nhàng đẹp như mơ trong quá khứ ngòi bút tác giả đưa ta đến với hiện tại, với
    những đổi thay, xa cách trong lòng người. Chiến tranh qua đi, người lính trở về guồng quay xô
    bồ và náo nhiệt của cuộc sống. Tác giả nhận ra một quy luật đáng buồn của cuộc sống: khi
    được sống trong nhung lụa ấm êm, con người ta dễ quay lưng lại với quá khứ vất vả, nghèo
    nàn, dù đó có là một quá khứ mơ mộng, đẹp đẽ và đáng quý. Quy luật ấy đi từ sự lãng quên,
    đổi thay quá nhanh của con người:
    Từ
    hồi
    về
    thành
    phố
    quen
    ánh
    điện
    cửa
    gương
    vầng
    trăng
    đi
    qua
    ngõ
    như người dưng qua đường
    “ánh điện, cửa gương” là cách nói hoán dụ cho cuộc sống tiện nghi hiện đại, xa rời thiên nhiên.
    Từ đổi thay trong hoàn cảnh sống, lòng người cũng dần đổi thay, khó nhận ra, mà hay là đã
    nhận ra nhưng cố tình quên đi. Vầng trăng từ chỗ là người bạn thân thiết gắn bó trở thành
    “người dưng qua đường”. Vầng trăng thì một mực thủy chung tình nghĩa “đi qua ngõ” như đợi
    người bạn cũ nhận ra, thế nhưng người bạn cũ ngày xưa nay đã quen với ánh sáng của đèn
    điện vàng bọt giả tạo, giam mình trong bốn bức tường bê tông gạch đá chật hẹp tù túng mà
    tưởng cuộc sống đã sung sướng hơn xưa. Người ta đã để cho xi măng láng trơn tuột đi những
    rung động, xúc cảm tinh tế của trái tim, và trát kín cả những khe sáng huyền diệu từ quá khứ rọi
    về. Sống cuộc sống như thế, phải chăng ta đang đánh đổi cái giàu có trong tâm hồn lấy những
    tiện nghi hiện đại phù phiếm xa hoa, khi mà hạnh phúc đích thực luôn là một trái tim tràn đầy
    tình yêu thương!
    ad
    Sự lãng quên ấy có thể là mãi mãi nếu không có một chuyển biến bất ngờ: thành phố bị mất
    điện. Hoàn cảnh bài thơ là bước ngoặt tạo cảm xúc dâng trào, giúp nhà thơ bộc lộ rõ nét cảm
    xúc, tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
    Thình
    lình
    đèn
    điện
    tắt
    phòng
    buyn-đinh
    tối
    om
    vội
    bật
    tung
    cửa
    sổ
    đột ngột vầng trăng tròn
    Tình huống tưởng như không có gì mới mẻ, lạ lẫm, nhất là những năm đầu giải phóng như thời
    điểm sáng tác bài thơ – năm 1978, nhưng đặt vào hoàn cảnh tác giả, nó làm nổi bật lên sự đối
    lập tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Các từ ngữ “thình lình”, “vội”, “bật tung” tạo nhịp thơ
    nhanh, mạnh; để rồi tất cả như sững lại, lặng đi bởi một vầng trăng tròn” “đột ngột” và lung linh.
    Chính khoảnh khắc ấy đã làm nổi bật lên ý nghĩa tuyệt đẹp của toàn bài: con người vội vã, gấp
    gáp với cuộc sống hiện đại khi nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống thì thật bàng hoàng,
    sững sờ. Đã có “ánh điện” sáng trưng, người ta đâu cần ánh trăng huyền diệu lờ mờ nữa, chỉ
    đến khi thứ ánh sáng nhân tạo kia mất đi, người ta mới nhận ra người bạn cũ từng nguyện mãi
    mãi không quên và sững người trước người bạn trăng tròn đầy, vẹn nguyên, luôn chung thủy
    đợi chờ. Khoảnh khắc người và trăng mặt đối mặt thì tình xưa nghĩa cũ dâng lên đến tràn đầy.
    Cuộc hội ngộ bất ngờ tạo rung động mạnh mẽ và thức tỉnh lương tâm con người; cái “đột ngột”
    không phải ở trăng, mà ở chính tâm trạng tác giả – tâm trạng thảng thốt, ngỡ ngàng của con
    người trước sự đổi thay của lòng mình và sự vẹn tròn của trăng, để từ đó đi đến những day
    dứt, suy tư.

    Nếu như khổ thơ thứ tư đẩy tình huống thơ đến cao trào thì khổ thơ thứ năm lại “rưng rưng”
    trong sự xúc động mãnh liệt của nhà thơ.
    Ngửa
    mặt
    lên
    nhìn
    mặt

    cái

    rưng
    rưng
    như

    đồng

    bể
    như là sông là rừng
    Nhà thơ đối diện với trăng trong cái lặng im có phần thành kính. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ
    nhiều nghĩa tạo ý thơ, gợi mở cho người đọc. Nhà thơ đối diện với trăng hay thiên nhiên đối
    diện với con người? Và có lẽ cũng là hiện tại đối diện với quá khứ, bạc bẽo vô tình với thủy
    chung gắn bó. Bất ngờ gặp lại người bạn cũ, nhà thơ chợt nhận ra thứ mặt nạ của thời gian đã
    che lấp tất cả. Trong giây phút ấy, nhà thơ tưởng như “rưng rưng” xúc cảm – tự hổ thẹn với
    chính sự đổi thay vô tình của bản thân. Nhưng cũng đan xen vào nỗi hổ thẹn đó, một cảm xúc
    nghẹn ngào vui sướng đang len lỏi vào trái tim khô cằn bấy lâu nay của nhà thơ, gặp lại trăng –
    gặp lại người bạn cũ, ông chợt hồi tưởng lại một quãng thời gian thương nhớ, với đồng, với bể,
    với sông với rừng. Cuộc sống hiện tại như ngừng lại nhường chỗ cho dòng kí ức ùa về,
    nhường chỗ cho giây phút tự nhìn lại bản thân. Câu thơ trải dài bao quát cả quá khứ và hiện
    tại, thiên nhiên và con người, lao động và chiến đấu, thủy chung tình nghĩa và bạc bẽo vô tình.
    Trăng còn gợi đến hình ảnh của hiện tại, của vẻ đẹp thiên nhiên mơ màng hùng vĩ, gợi lên
    những bừng tỉnh đột ngột để nêu lên một khát vọng lớn lao vào tương lai. Nhịp thơ nhanh, với
    một loạt các từ ngữ liệt kê “đồng”, “biển”, “rừng”, “sông” cuốn vào mạch cảm xúc của bài thơ,
    giúp người đọc như cùng chung cảm xúc với nhân vật, với hoàn cảnh trữ tình.
    ad
    Từ những hồi tưởng và thức tỉnh, nhà thơ đi đến suy ngẫm và triết lí nhân sinh sâu sắc khái
    quát nội dung toàn bài thơ:
    Trăng
    cứ
    tròn
    vành
    vạnh
    kể
    chi
    người

    tình
    ánh
    trăng
    im
    phăng
    phắc
    đủ cho ta giật mình
    Trong cuộc gặp mặt bất ngờ, trăng và người như có sự đối lập. Trăng trở thành biểu tượng của
    sự vĩnh hằng bất biến, vầng trăng “cứ tròn vành vạnh” tượng trưng cho sự tròn đầy, trọn vẹn
    tình nghĩa của thiên nhiên, cuộc sống và con người trong quá khứ dù cho con người nay đã đổi
    thay “vô tình”. Ánh trăng được nhân hóa “im phăng phắc”, gợi cái nhìn bao dung, độ lượng mà
    nghiêm khắc của người bạn thủy chung. Hình ảnh thơ được lấy từ hiện thực – thiên nhiên bất
    biến, vĩnh hằng để khái quát nên một lẽ sống cao đẹp 1 tình nghĩa, trọn vẹn, chung thủy và vị
    tha. Tấm lòng đáng trân trọng ấy là tấm lòng của những người đồng chí đồng đội một thời sống
    chết vì nhau của đồng bào nhân dân đã san sẻ từng “chia nhau củ sắn bùi/ Bát cơm sẻ nửa,
    chăn sui đắp cùng”. Cao đẹp biết bao là tình người vị tha, bao dung, độ lượng, vị tha để, người
    bạn vô tình được “giật mình” thức tỉnh và kịp có một cơ hội níu giữ quá khứ, níu giữ tấm lòng
    trong sạch, thanh cao.
    Có lẽ vì thế mà chỉ ánh nhìn “im phăng phắc” là đã đủ, câu thơ cuối dồn nén nghẹn ngào tạo
    âm vang lớn trong lòng người đọc về những bừng tỉnh suy tư.
    Ánh trăng gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị, thủ thỉ tâm tình, giọng thơ trầm tĩnh. Bài
    thơ không chỉ giống một câu chuyện nhỏ mà còn như một áng văn nghị luận xã hội đầy chất
    thơ. Sự mạch lạc tuần tự của tự sự và nghị luận giúp bài thơ đi vào tâm trí người đọc thật dễ
    dàng, tự nhiên, khắc sâu triết lí sống cao đẹp, thủy chung có tình có nghĩa, bộc lộ niềm băn
    khoăn trăn trở trước thực tại:
    Mình
    về
    thành
    thị
    xa
    xôi
    Nhà
    cao
    còn
    nhớ
    núi
    đồi
    nữa
    chăng
    Phố
    đông
    còn
    nhớ
    bản
    làng
    Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng
    Chất tự sự và chất trữ tình đan xen hòa quyện vào từng âm điệu, dòng thơ. Các chữ đầu dòng
    thơ không viết hoa thể hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của tác giả. Nhịp thơ khi ngân nga, vang,
    vọng, khi dồn dập, mạnh mẽ, lúc trầm lắng ăm ắp suy tư tạo cho tác phẩm sự trôi chảy, mượt
    mà, tự nhiên và nhịp nhàng trong dòng cảm xúc dâng trào.

    Câu chuyện của nhà thơ không chỉ dành riêng cho chính bản thân ông, nó còn có sức khái quát
    rất lớn với cả một thế hệ trải qua những năm dài mất mát của chiến tranh, nơi đạn bom, gian
    khổ. Câu chuyện của vầng trăng còn gặp lại nhiều câu chuyện khác – cùng với nỗi xót xa, trăn
    trở về cuộc sống đổi thay, như Ăn mày dĩ vãng với Ba Sương và Hai Hùng của Chu Lai,
    như Việt Bắc với “mình” và “ta” của Tố Hữu. Tất cả như đồng lòng nhất trí chung sức rung một
    hồi chuông lớn đến người đọc: đừng bao giờ quên quá khứ, đừng bao giờ sống bạc bẽo vô
    tình. Cuộc sống dẫu có đổi thay, lòng người dẫu có xa khác, nhưng đừng bao giờ quên đạo lí
    thủy chung “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, đừng bao giờ đánh đổi tình nghĩa sâu nặng
    lấy những phù phiếm hão huyền.
    ĐỒNG CHÍ

    –Chính Hữu

    * Giới thiệu
    Tình cảm là thứ quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nó như dòng nước ngọt ngào chảy dọc trong ống
    nhựa tắm mát tâm hồn ta, tưới nước cho hạt giống tinh thần bên trong ta nảy nở. Thiếu đi cái ngọt ngào
    của tình cảm, ta sẽ chỉ như ống nước rỗng ruột, khô cứng, tâm hồn ta sẽ chẳng khác gì hoang mạc cằn khô
    nứt nẻ. Tình cảm trong chiến tranh, trong những mưa bom bão đạn, những khói lửa mịt mù lại càng đáng
    nhớ hơn, nó thể hiện sự gắn bó, yêu thương không điều kiện, đồng cam cộng khổ vượt qua những chông
    gai của cuộc chiến. Thứ tình cảm thiêng liêng ấy không gì khác chính là tình đồng chí. Nhà thơ Chính
    Hữu đã viết về tình cảm cao đẹp ấy, đồng thời tái hiện lại một cách chân thực hình ảnh người lính chống
    Pháp, qua bài thơ “Đồng chí” của ông.
    I – Tìm hiểu chung:
    1. Tác giả:
    - Chính Hữu,tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926-2007), quê:Can Lộc,Hà Tĩnh.
    - 1946,ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống
    Pháp và chống Mĩ.
    - 1947,ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh với cảm xúc dồn
    nén,ngôn ngữ cô đọng.
    - 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật. - Tác phẩm
    chính: Đầu súng trăng treo(1966), Ngọn đèn đứng gác….
    2. Tác phẩm:
    “Đồng chí” là một trong số những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Chính Hữu và cũng là của
    nền thơ kháng chiến.
    Bài thơ đã đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ làm đẹp mãi cho một hồn thơ chiến sĩ – hồn thơ
    Chính Hữu.
    a. Hoàn cảnh sáng tác:
    Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến dịch Việt Bắc ( thu đông
    1947 ).Trong chiến dịch này, Chính Hữu là chính trị viên đại đội, ông có nhiều nhiệm vụ nhất là việc
    chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau chiến dịch, vì là rất vất vả, nên ông bị ốm
    nặng, phải nằm lại điều trị. Đơn vị đã cử một đồng chí ở lại để chăm sóc cho Chính Hữu và người đồng
    đội ấy rất tận tâm giúp ông vượt qua những khó khăn, ngặt nghèo của bệnh tật. Cảm động trước tấm lòng
    của người bạn, ông đã viết bài thơ “Đồng chí” như một lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới người đồng
    đội, người bạn nông dân của mình.
    Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo” ( 1966) – tập thơ phần lớn viết về người lính
    trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
    b. Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng chí cao cả, thiêng liêng của các anh bộ đội Cụ Hồ -những người
    nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. II –
    Đọc – hiểu văn bản:

    1. Cơ sở hình thành tình đồng chí:
    a. Hai câu đầu:
    Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt người
    chiến sĩ. Họ như đang tâm sự cùng nhau.Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân tình. “Quê anh” và
    “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “ nước mặn đồng chua” – vùng đồng
    bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi núi trung du.
    Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của
    những người chiến sĩ. Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng như con người
    vậy – những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên đường ra trận! Như vậy, sự đồng
    cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình thành nên tình đồng chí. b. 5 câu thơ tiếp:
    Nói về quá trình hình thành tình đồng chí: Xa lạ -> Cùng chung mục đích -> Tri kỉ -> Đồng chí. Năm
    câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi người xa lạ” rồi thành “ đôi tri kỉ” để kết
    thành “đồng chí”. Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ như dồn tụ, nén chặt lại. Những ngày
    đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời
    “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng rồi cùng với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng

    biết bao kỉ niệm: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu – Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. “Súng bên
    súng” là cách nói hàm súc,giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu. Họ
    cùng nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống còn của
    dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại diễn tả sự đồng ý, đồng
    tâm, đồng lòng của hai con người đó. Và câu thơ “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp
    đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa – Chăn sui đắp cùng” . Và
    như thế mới thành “đôi tri kỉ” để rồi đọng kết lại là “ Đồng chí!”. “Đồng chí” – hai tiếng ấy mới thiêng
    liêng làm sao! Nó diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi. Xúc động bởi đó là biểu hiện cao
    nhất của một tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ.Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của những con
    người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ. => Ở đây, trong những
    câu thơ này, tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, nhưng rất chân xác: “bên”,
    “sát”,”chung”,”thành” đã thể hiện được sự gắn bó tha thiết của mối tình tri kỉ, của tình cảm đồng chí.
    Cái tấm chăn mỏng, hẹp mà ấm nóng tình đồng đội ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính không bao
    giờ quên.
    Câu hỏi 1: Dòng thứ bảy của bài thơ có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong bài thơ được
    triển khai như thế nào trước và sau dòng thơ đó?
    => Trả lời:
    - Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo,một nét độc đáo qua ngòi bút của
    Chính Hữu. Dòng thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệt gồm từ hai âm tiết đi cùng dấu chấm
    than, tạo nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định đồng thời như một bản lề gắn kết
    đoạn thơ đầu với đoạn thơ sau. Sáu câu thơ đầu là cội nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng chí; mười câu
    thơ tiếp theo là biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí. “Đồng chí” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao
    tình cảm đẹp: tình giai cấp, tình bạn,tình người trong chiến tranh. Hai tiếng “đồng chí” bởi vậy mà giản
    dị, đẹp đẽ, sáng ngời và thiêng liêng.
    2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:
    a. Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu, chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:
    “Ruộngnương anh gửi bạn thân cày
    Gian nhà không mặc kệ gió lunglay
    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.
    Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: “ruộng nương”,”gian
    nhà”,”giếng nước”,”gốc đa”… Họ ra đi để lại sau lưng những băn khoăn, trăn trở, những bộn bề, lo toan
    của cuộc sống đời thường. Hai chữ “mặc kệ” đã diễn tả sâu sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn
    người lính. Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa.Song dù có dứt
    khoát thì vẫn nặng lòng với quê hương. Gác tình tiêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng và
    tự hào. Trong bài thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng trong tâm hồn những người lính:
    “Người ra đi đầu không ngoảnh lại
    Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
    Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh vẫn cảm nhận được “Sau lưng thềm năng lá rơi đầy”, cũng
    như người lính trong thơ của Chính Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng luôn hướng về quê hương.
    “Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán dụ mang tính chất nhân hóa diễn tả một cách tinh tế tâm hồn
    người chiến sĩ, tô đậm sự gắn bó của người lính với quê nhà. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay
    chính là tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về quê hương. Quả thật, giữa người chiến sĩ và quê
    hương có mỗi giao cảm vô cùng sâu sắc,đậm đà. Người đọc cảm nhận từ hình ảnh thơ một tình quê ăm ắp
    và đây cũng là nguồn động viên, an ủi, là sức mạnh tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao,
    thử thách suốt một thời máu lửa, đạn bom.
    b. Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, chia sẻ những khó khăn thiếu thốn của cuộc đời
    người lính:

    Chân không giày

    “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
    Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
    Áo anh rách vai
    Quần tôi có vài mảnh vá
    Miệng cười buốt giá

    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
    Bằng những hình ảnh tả thực, hình ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực những khó khăn thiếu thốn
    trong buổi đầu kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí, quân trang, thiếu thuốc men…Người lính phải
    chịu “từng cơn ớn lạnh”, những cơn sốt rét rừng hành hạ, sức khỏe giảm sút, song sức mạnh của tình
    đồng chí đã giúp họ vượt qua tất cả. Nếu như hình ảnh “Miệng cười buốt giá” làm ấm lên, sáng lên tinh
    thần lạc quan của người chiến sĩ trong gian khổ thì cái nắm tay lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật
    sâu sắc! Cách biểu lộ chân thực, không ồn ào mà thấm thía. Những cái bắt tay truyền cho nhau hơi ấm,
    niềm tin và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Cái nắm tay nhau ấy còn là lời hứa hẹn lập
    công.
    3. Biểu tượng đẹp của tình đồng chí:
    - Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội,là biểu tượng cao đẹp về cuộc đời người
    chiến sĩ:
    “Đêmnay rừng hoang sương muối
    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
    Đầu súng trăng treo”.
    + Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc
    tới”. Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên
    nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút “chờ giặc tới”. Tình đồng
    chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả….
    + Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp: “Đầu súng trăng treo”. Cảnh vừa thực, vừa mộng. Về ý nghĩa của
    hình ảnh này có thể hiểu: Đêm khuya, trăng tà, cả cánh rừng ngập chìm trong sương muối. Trăng lơ lửng
    trên không, chiếu ánh sáng qua lớp sương mờ trắng, đục. Bầu trời như thấp xuống, trăng như sà xuống
    theo. Trong khi đó, người chiến sĩ khoác súng trên vai, đầu súng hướng lên trời cao như chạm vào vầng
    trăng và trăng như treo trên đầu súng. “Trăng”là biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, là sự sống
    thanh bình. “Súng” là hiện thân cho cuộc chiến đấu gian khổ, hi sinh. Súng và trăng, cứng rắn và dịu
    hiền. Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ. Hai hình ảnh đó trong thực tế vốn xa nhau vời vợi nay lại gắn kết
    bên nhau trong cảm nhận của người chiến sĩ: trăng treo trên đầu súng. Như vậy, sự kết hợp hai yếu tố,
    hiện thực và lãng mạn đã tạo nên cái vẻ đ...
     
    Gửi ý kiến